Mặt khác, tỷ lệ hộ nghèo của nhiều huyện trong tỉnh còn cao như: huyện Tam Đảo 40,18%; huyện Tam Dương 28,94%; huyện Lập Thạch 26,02%; huyện Mê Linh 14,97%, huyện Yên Lạc 14,09%; huyện Vĩnh Tường 13,12%; huyện Bình Xuyên 12,09%; thị xã Phúc Yên 9,02%; thị xã Vĩnh Yên 6,25%.
Như vậy, công tác XĐGN ở các vùng miền, địa phương còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao và chưa đồng đều giữa các đơn vị trong tỉnh, nhất là sự chênh lệch về tỷ lệ hộ nghèo giữa các huyện miền núi với các huyện đồng bằng và thị xã còn cao.
Những khó khăn và tồn tại trên đây do nhiều nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan mang lại. Nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền và một bộ phận dân cư nghèo còn chưa đúng đắn, chưa chủ động và phát huy tích cực khả năng nội lực để vươn lên. Cấp chính quyền cơ sở ở một số địa phương còn áp đặt tỷ lệ hộ nghèo. Người thoát nghèo không muốn ra khỏi danh sách hộ nghèo với mong muốn được hưởng những chế độ, chính sách trợ giúp của Nhà nước; các nguồn lực đảm bảo cho công tác XĐGN còn thiếu tập trung; hệ thống cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ và kém chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội của nhiều địa phương; nguồn nhân lực tuy dồi dào nhưng hiệu quả sử dụng lao động còn chưa cao, cơ cấu lao động chậm đổi mới, chất lượng lao động còn thấp, thiếu lao động kỹ thuật, nhất là lao động có trình độ tay nghề cao. Đặc biệt, nhiều hộ gia đình khi tham gia vào công tác XĐGN, thực hiện các kế hoạch và chương trình còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, nguồn thu nhập và tài sản sở hữu lại ít ỏi .v.v. nên khi gặp phải rủi ro, các hộ gia đình mới thoát nghèo không vượt qua được khó khăn và tái nghèo trở lại.
Nhằm kế thừa, phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những khó khăn và tồn tại trên đây, trong thời gian tới công tác XĐGN ở tỉnh Vĩnh Phúc cần thực hiện đồng bộ, hữu cơ một số giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách.
Cần có sự nghiên cứu cơ bản và toàn diện hơn về thực trạng đói nghèo ở từng địa phương và đơn vị cơ sở trong toàn tỉnh, phân loại cụ thể các đối tượng nghèo đói làm căn cứ xây dựng và hoàn thiện một số chính sách đặc thù cho từng địa phương trên cơ sở Hiến pháp và Pháp luật như: chính sách dồn điền đổi thửa nhằm hình thành những ô ruộng rộng lớn, những vùng sản xuất tập trung thuận lợi cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp (ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, máy móc vào sản xuất nông nghiệp), phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm; tiếp tục đổi mới các chính sách về vốn theo hướng đa dạng hoá các hình thức vay, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi để họ có thể thực hiện đầu tư và tái đầu tư, quay vòng vốn từ 2 đến 3 chu kỳ sản xuất; hình thành và phát triển các Quỹ đói nghèo nhằm giúp đỡ các hộ gia đình đói nghèo vượt qua khó khăn để thoát khỏi cảnh nghèo đói.
Với những sản phẩm đầu ra tập trung, có số lượng lớn, cán bộ chính quyền các cấp cần có cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, phát triển các nhà máy chế biến nông, lâm sản.v.v. nhằm đảm bảo tiêu thụ sản phẩm đầu ra với mức giá có lợi cho người dân, giúp nhân dân yên tâm sản xuất đạt hiệu quả và năng suất lao động cao nhất.
Hai là, tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển toàn diện trên cơ sở phát huy thế mạnh (lợi thế so sánh) của từng địa phương. Giúp các hộ đói nghèo từng bước tiếp cận và tham gia vào cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế, hướng họ từ việc sản xuất theo nền kinh tế phi tập trung, phi chính quy vào sản xuất hàng hoá lớn của nền kinh tế tập trung và chính quy có sự quản lý của Nhà nước.
Đối với cơ cấu ngành kinh tế cần thực hiện chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tăng tỷ trọng các nhóm ngành thương mại -dịch vụ, công nghiệp đồng thời giảm tỷ trọng các nhóm ngành nông nghiệp, giúp các hộ đói nghèo sớm tiếp cận và cùng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế -xã hội của địa phương.
Ba là, phát triển các hoạt động phi nông nghiệp tại các địa phương:
Đa dạng hoá các hoạt động phi nông nghiệp và các hình thức kinh doanh, tiếp tục xây dựng và phát triển các làng nghề truyền thống tại các địa phương trên cơ sở địa phương đó có những hạt nhân (cá nhân hoặc nhóm cá nhân) có am hiểu, có kinh nghiệm và trình độ, tay nghề làm ra những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu ổn định về sản phẩm, dịch vụ của nền kinh tế thị trường. Qua đó vừa đảm bảo nguồn thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nói chung và các hộ đói nghèo nói riêng, giúp họ thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và nghèo đói.
Bốn là, nâng cao chất lượng các nguồn lực:
Đảm bảo chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động của các địa phương, nâng cao năng lực, trình độ, kiến thức và kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất cho người lao động cũng như các hộ đói nghèo; giúp họ xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế của gia đình, vượt qua được những khó khăn khi gặp rủi ro, hạn chế tình trạng tái nghèo xảy ra.
Từng bước hình thành các trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm có uy tín cao là cầu nối trung gian giữa người lao động và các hộ đói nghèo có khả năng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động.
Thực hiện kiên cố hoá kênh mương, xây dựng thuỷ lợi và ứng dụng công nghệ tưới ẩm vào các vùng thiếu nước. Hướng dẫn các hộ gia đình ở nông thôn cải tạo vườn tạp, hình thành các khu vườn chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá các mô hình sản xuất khép kín VAC (Vườn -Ao-Chuồng), phát triển kinh tế trang trại, thực hiện chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất góp phần phát triển kinh tế -xã hội, XĐGN tại các hộ gia đình và địa phương.
Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức:
Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác XĐGN phải được đào tạo về kỹ năng nghiệp vụ và nâng cao trình độ chuyên môn thực thi công vụ, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về XĐGN; Cán bộ, công chức phải là công bộc của nhân dân, tận tuỵ phục vụ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân qua đó phản ánh và đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; có nếp sống lành mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong công tác; thường xuyên học tập nâng cao trình độ, chủ động, sáng tạo và phối hợp cùng nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ XĐGN ở địa phương, đơn vị cơ sở và trong toàn tỉnh./
Tài liệu tham khảo
1.Chỉ thị số 23/CT-TW ngày 29/11/1997 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về lãnh đạo côngtác XĐGN;
2.Thông báo số 134/TB-TU ngày 08/11/2001 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc về Chương trình mục tiêu XĐGN -việc làm giai đoạn 2001-2005;
3.Đề án số38 /ĐA-UBND ngày 07/01/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc thực hiện chương trình XĐGN -việc làm giai đoạn 2001-2005;
4.Nghị quyết số 04/2002/NQ-HĐ ngày 28/01/2002 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc phê duyệt đề án XĐGN -việc làm giai đoạn 2001-2005;
5. Báo cáo tổng kết công tác XĐGN -việc làm giai đoạn 2001-2005 của Sở Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc;
6.Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ IV nhiệm kỳ 2005-2010;
7.Quyết định số170 /2005/QĐ-TTg ngày 07/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010;
8.Lắng nghe người nghèo nói, Action aid Vietnam năm 2005.